Rồi một ngày

By Đỗ Minh Ánh

Sóng bị biển cuốn đi
Chỉ lo bờ ở lại
Con thuyền tự chèo lái
Sẽ cập bến nơi đâu?
 
Sóng nặng lòng trước sau
Vẫn thương bờ lận đận
Nhưng sợ mình nổi giận
Sóng sẽ lật đổ thuyền?
 
Sóng chỉ muốn sống hiền
Nép vào bờ yên ả
Sóng không còn gì cả
Nếu phải lặng lẽ đi!
 
Chỉ mong sự chia ly
Sẽ giúp bờ thanh thản
Hãy trở về đơn giản
Phẳng lặng với cuộc đời.
 
Ở một nơi xa xôi
Sóng nhìn bờ vui vẻ
Như vẫn từng chia sẻ
Những ngày sát cạnh bờ.
 
Bờ sao mãi thờ ơ?
Còn biển luôn say đắm!
Nhưng từ trong sâu thẳm
Sóng chỉ hướng về bờ…
Đỗ Minh Ánh

More...

Đường về

By Đỗ Minh Ánh

Gió vẫn thổi

Mưa vẫn rơi

Thân đã mỏi

Lòng buông lơi

 

Màn đêm ơi

Đừng sập xuống

Để ta uống

Cả cơn say

 

Con đường đây

Hay bên đó?

Sao chẳng rõ

Biết về đâu?

 

Bước chân đau

Vì vấp ngã

Thêm lạnh giá

Đôi bàn tay

 

Sáng sớm nay

Lòng nặng trĩu

Có ai hiểu

Chuyện đường về?

- Minh Ánh -

 

More...

TẬP SỰ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ – ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ

By Đỗ Minh Ánh


                Luật sư Tập sự Đỗ Minh Ánh
          (Bài viết tháng 05/2004)

 

Pháp lệnh luật sư năm 2001 ra đời đã tạo điều kiện cho các Đoàn Luật sư mở rộng hơn để kết nạp Luật sư tập sự. Tuy nhiên chức danh Luật sư tập sự đã có từ Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987: "Người muốn gia nhập đoàn Luật sư phải qua thời gian tập sự từ 6 tháng đến 2 năm và qua một kỳ kiểm tra mới được công nhận là Luật sư". Luật sư tập sự theo quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001 phải đáp ứng điều kiện: tốt nghiệp đại học Luật (không chấp nhận trình độ tương đương) qua quá trình đào tạo nghiệp vụ tại Học viện đào tạo các chức danh tư pháp và quá trình tập sự được ấn định là 2 năm. Đối chiếu như vậy để thấy rằng xuất phát điểm về trình độ của các Luật sư tập sự ngày nay đã được đòi hỏi cao hơn hẳn so với trước đây. Các luật sư tập sự đã có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về mặt lý thuyết và phương pháp. Nhưng điều đó không hoàn toàn đồng nghĩa với việc chất lượng của các Luật sư tương lai sẽ cao hơn nếu các Luật sư tập sự không trải qua một quá trình tập sự hành nghề có hiệu quả.

Hiện nay Đoàn Luật sư Hà Nội có 568 thành viên trong đó có 318 Luật sư tập sự. Việc số lượng luật sư tập sự ngày càng tăng cho thấy sự say mê nghề nghiệp và đội ngũ Luật sư tập sự ngày càng chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số thành viên của Đoàn. Vì vậy công việc đào tạo kỹ năng hành nghề cho các Luật sư tập sự được quan tâm và điều quan trọng hơn là làm sao để hạn chế tình trạng Luật sư tập sự "nhiều" dẫn đến "thừa". Một luật sư tập sự ít nhất phải trải qua quá trình đào tạo cử nhân 4 đến 4 5 năm sau đó là 6 tháng đào tạo nghiệp vụ luật sư. Nếu để "thừa" sẽ vô cùng lãng phí trong khi nhu cầu phát triển của xã hội đang rất cần có một đội ngũ luật sư có chất lượng...

Với tư cách là một luật sư đã trải qua hơn nửa chặng đường tập sự tôi phần nào hiểu được những trăn trở và suy nghĩ của các Luật sư tập sự đặc biệt là những Luật sư tập sự trẻ đang bước những bước đi đầu tiên trong nghề nghiệp.

Từ việc xác định những khó khăn khách quan...

Khó khăn trước tiên mà Luật sư tập sự gặp phải là sự nhìn nhận của cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình làm việc. Mặc dù phạm vi hành nghề của Luật sư tập sự đã được pháp luật quy định rõ nhưng trên thực tế rất ít Tòa án tiếp nhận môt Luật sư tập sự tham gia tố tụng mà không thấy "gượng gạo". Điều đó cũng xuất phát từ chính các Luật sư tập sự còn ít kinh nghiệm chưa tự tin ở bản thân chưa vững vàng trong mối quan hệ với khách hàng cũng như với cơ quan tiến hành tố tụng do đó để tạo được sự tin cậy thật không dễ dàng.

Khó khăn thứ hai mà Luật sư tập sự có thể đang gặp phải đó là vấn đề nguồn việc. Không có cách trưởng thành về nghề nghiệp nào tốt hơn cho các Luật sư tập sự là trực tiếp được làm việc được cọ xát với thực tế để hoàn thiện dần kỹ năng nghề nghiệp của mình. Thời gian tập sự của Luật sư là tập sự "hành nghề" nên điều cốt yếu là phải được "hành nghề" nếu không được "hành nghề" thì chức danh tập sự chỉ là hình thức mà thôi! Nếu đã là hình thức thì khi hết thời hạn tập sự một Luật sư tập sự sẽ không tiến thêm được gì so với điểm xuất phát ban đầu. Hay nói xa hơn nữa trong tương lai sẽ không thể có một đội ngũ Luật sư vững vàng trong nghề nghiệp để kế tục được thế hệ Luật sư hiện nay như chúng ta mong muốn.

Thực tế một số văn phòng Luật sư có số lượng đầu việc rất ít để có thể phân công cho các luật sư tập sự là rất khó. Vì vậy các Luật sư tập sự chưa có cơ hội để làm việc thực sự. Điều đó gây khó khăn cho Luật sư tập sự trong việc tích lũy kinh nghiệm.
 

... Để luôn có thái độ chấp nhận và phấn đấu nhiều hơn là đòi hỏi:

Một luật sư tập sự đều có nhu cầu được làm việc trong môi trường tốt được tạo điều kiện để đảm bảo cuộc sống được học tập để nâng cao trình độ chuyên môn. Đó là những đòi hỏi hết sức chính đáng. Tuy nhiên chúng ta cần nhận thấy những khó khăn trước mắt để coi thời gian tập sự là quá trình thử thách cần phát huy hết sáng tạo của bản thân.

Nghề nào cũng vậy luôn đòi hỏi sự nỗ lực và chăm chỉ. Nghề luật sư dường như đòi hỏi khắt khe hơn: 2 năm tập sự không phải là ngắn đối với một luật sư. Kiên trì vẫn chưa đủ chúng ta còn cần có sự sáng tạo và linh hoạt để tiếp thu những kỹ năng của nghề nghiệp. Bởi lẽ đây không phải là quá trình học nghề đơn thuần không giống như một người đến lò rèn để học nghề thợ rèn có thể ban đầu anh ta chưa biết cách cầm búa nhưng rồi cuối cùng vẫn có thể trở thành một người thợ rèn. Những tố chất của người Luật sư cần phải được hình thành và có sẵn ngay từ ban đầu và quá trình tập sự chỉ là lúc những tố chất ấy được hoàn thiện hơn. Điều đó có nghĩa là một Luật sư tập sự cần có phong cách làm việc và tư duy của một Luật sư thực thụ.

Chúng ta luôn mong muốn có được cơ hội học hỏi và phấn đấu. Để có được những cơ hội đó ngoài sự giúp đỡ của những người đi trước Luật sư tập sự cũng cần tự tìm tòi dựa vào khả năng của bản thân và bằng cả các mối quan hệ nghề nghiệp.

Hãy biết tận dụng lợi thế của mình:

Nhìn vào Đoàn Luật sư Hà Nội có thể nhận thấy phần lớn các Luật sư tập sự còn rất trẻ. Chúng ta có thể còn thiếu kinh nghiệm nghề nghiệp nhưng lợi thế của chúng ta là tuổi trẻ đồng nghĩa với sự năng động và nhiệt huyết. Những phẩm chất ấy rất thuận lợi cho việc tiếp thu nhanh những kinh nghiệm và thông tin mới trong quá trình tập sự hành nghề. Chúng ta cần tự tin hơn ở bản thân và cần có tham vọng vươn lên để khẳng định mình. Điều đó được thể hiện trong các mối quan hệ công việc với khách hàng với Tòa án với đồng nghiệp...

Ví như trong quan hệ với khách hàng ban đầu chúng ta chưa thể có được sự tin tưởng của khách hàng nhưng bằng khả năng và hiệu quả làm việc hãy chứng minh rằng chúng ta là những luật sư đáng tin cậy. Trong mối quan hệ với cơ quan tiến hành tố tụng có thể hai chữ "tập sự"còn hơi "xa lạ" nhưng chúng ta hãy cứ tự tin làm tốt vai trò của mình để họ có cái nhìn thiện cảm hơn đối với chúng ta. Luật sư hướng dẫn - đó là người thầy và cũng là người đồng nghiệp của chúng ta. Vậy nên chẳng lý do gì để chúng ta không mạnh dạn đề xuất những nguyện vọng và mong muốn của mình. Và cuối cùng không nên ngần ngại khi đóng góp ý kiến xây dựng tổ chức hành nghề xây dựng Đoàn Luật sư. Bởi lẽ việc đóng góp ý kiến đó cũng là đã giúp cho tất cả chúng ta có được môi trường làm việc tốt hơn.

 

Nỗ lực từ phía các tổ chức hành nghề Luật sư:

Sự thật là khi tiếp nhận các Luật sư tập sự các tổ chức hành nghề gặp nhiều trở ngại hơn là thuận lợi. Bởi lẽ việc nhận luật sư tập sự kéo theo vấn đề về tài chính phân công Luật sư hướng dẫn tạo nguồn việc cho Luật sư tập sự... Vì vậy để quá trình tập sự có hiệu quả phải đòi hỏi sự nỗ lực và tạo điều kiện rất lớn từ chính các tổ chức hành nghề luật sư. Tùy theo tình hình của mỗi tổ chức hành nghề luật sư mà cần có những kế hoạch riêng để hướng dẫn các Luật sư tập sự. Những tổ chức hành nghề có khối lượng công việc lớn có thể kết hợp để Luật sư tập sự vừa tập sự vừa là nhân viên làm việc theo hợp đồng. Những tổ chức hành nghề có khôi lượng công việc ít có thể áp dụng chế độ tập sự linh hoạt về thời gian để Luật sư tập sự có điều kiện làm việc tại cơ quan tổ chức khác. Đó là cách thức mà nhiều tổ chức hành nghề hiện nay đang thực hiện. Cho dù phần nhiều các Luật sư tập sự có thể đang sống bằng nghề tay trái nhưng vấn đề đặt ra là làm thế nào để vừa thực hiện quá trình tập sự một cách nghiêm túc lại vừa có thu nhập để đảm bảo cuộc sống? Đó là câu hỏi không dễ và không cần thiết phải có một lời giải đáp chung.

 

Tuy có cùng một mục đích song mỗi chúng ta có hoàn cảnh và khả năng khác nhau. Mỗi chúng ta sẽ lựa chọn những con đường đi riêng cho mình chỉ cần luôn luôn xác định rằng: Chúng ta sẽ kiên trì và nỗ lực trên con đường đó để đi đến đích. Với riêng tôi vào lúc này tôi nhận thấy mình còn nhiều việc phải làm. Đơn giản chỉ vì tôi vẫn đang là một Luật sư tập sự và tôi mong tiến xa hơn trong nghề./.

More...

Một số ý kiến bàn luận về các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

By Đỗ Minh Ánh

                                                                                                                    Luật sư Đỗ Minh Ánh

Hoạt động thương mại bao gồm mua bán hàng hóa cung ứng dịch vụ đầu tư xúc tiến thương mại và hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Trong đó mua bán hàng hóa quốc tế là một trong những vấn đề quan trọng của Luật thương mại nói chung và Luật thương mại quốc tế nói riêng. Hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế được điều chỉnh bởi các văn bản quy phạm pháp luật quốc tế như: Công ước Vienna 1980 Incoterms 2000 Công ước Rome 2008... Trong hệ thống pháp luật quốc gia Việt Nam tuy các quy định pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế chưa được định hình rõ nét nhưng hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế đã được điều chỉnh bởi một số quy phạm pháp luật trong Bộ luật dân sự 2005 Luật thương mại 2005 các văn bản hướng dẫn thi hành. Nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam về mua bán hàng hóa quốc tế trở nên rất cần thiết để nâng cao hiểu biết về những vấn đề liên quan đến mua bán hàng hóa quốc tế; mặt khác nhằm tìm ra những điểm bất cập còn tồn tại chưa phù hợp với các điều ước quốc tế và tập quán thương mại quốc tế trong các văn bản này. Từ đó chúng ta có thể đưa ra những kiến nghị kịp thời để hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật về mua bán hàng hóa quốc tế đặc biệt là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.   

         1. Các khái niệm chung:

Để nghiên cứu và tìm ra những điểm bất cập trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trước hết cần tìm hiểu các khái niệm cơ bản có liên quan đến lĩnh vực này.

1.1. Khái niệm mua bán hàng hóa và Hợp đồng mua bán hàng hóa:

Theo khoản 2 và khoản 8 - điều 3 - Luật thương mại năm 2005 của Việt Nam:

"Hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản kể cả động sản hình thành trong tương lai; những vật gắn liền với đất đai."

"Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận."

Quan hệ mua bán hàng hoá được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lý là hợp đồng mua bán hàng hóa. Trước tiên Hợp đồng mua bán hàng hóa có bản chất chung của một hợp đồng là sự thoả thuận nhằm xác lập thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán hàng hóa(1). Mặc dù Luật Thương mại 2005 không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa nhưng trên cơ sở điều 428 - Bộ luật Dân sự quy định về hợp đồng mua bán tài sản chúng ta có thể vận dụng để rút ra khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa như sau:

Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữa các bên theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng hóa(2) cho bên mua và nhận tiền còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng hóa và trả tiền cho bên bán.

Như vậy hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản. Tuy nhiên hợp đồng mua bán hàng hóa cũng mang những nét đặc thù riêng về chủ thể đối tượng hình thức(3).

  • Về đối tượng: Hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại có đối tượng là hàng hoá. Hàng hóa hiểu theo nghĩa thông thường là sản phẩm lao động của con người được tạo ra nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu của con người nhưng theo quy định của Luật thương mại 2005 thì hàng hóa với tư cách là đối tượng của hợp đồng mua bán trong thương mại chỉ bao gồm hàng hoá hiện đang tồn tại hoặc sẽ có trong tương lai có thể là động sản hoặc bất động sản được phép lưu thông thương mại và phải loại trừ một số hàng hoá đặc biệt chịu sự điều chỉnh riêng như cổ phiếu trái phiếu... Còn đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản rộng hơn là các loại tài sản được quy định tại điều 162 - Bộ luật Dân sự 2005: vật tiền giấy tờ có giá và các quyền tài sản được phép giao dịch.
  • Về chủ thể: chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là thương nhân(4). Thương nhân - chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa có thể là thương nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài. Các tổ chức cá nhân không phải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa. Theo khoản 3 - điều 1 - Luật thương mại 2005 hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân chỉ phải tuân theo Luật Thương maị khi chủ thể này lựa chọn áp dụng Luật Thương mại.
  • Về mục đích: hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại chủ yếu là để kinh doanh thu lợi nhuận cho các thương nhân chỉ phần nào đó phục vụ mục đích tiêu dùng và các mục đích khác cho cả thương nhân và những chủ thể không phải thương nhân tuỳ theo mong muốn và nhu cầu của họ trong từng thời điểm.
  • Về hình thức: Theo điều 401 - Bộ luật Dân sự 2005 và điều 24 - Luật thương mại 2005 thì hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể. Tuy nhiên trong thực tế kinh doanh chúng ta thấy rằng đối tượng là hàng hoá thường mang số lượng nhiều giá trị lớn và để đảm bảo lợi ích tránh xảy ra tranh chấp không đáng có thì hình thức hợp đồng bằng văn bản được ưu tiên sử dụng do những ưu điểm vốn có của nó (minh bạch rõ ràng có thể dễ dàng đưa ra làm bằng chứng khi có tranh chấp).


               1.2. Khái niệm Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế:

  • Theo khoản 1 - điều 1 - Công ước La Haye 1964 về luật thống nhất về mua bán hàng hóa quốc tế (Convention relating to a Uniform Law on the International Sale of Goods) thì hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải thỏa mãn hai điều kiện sau đây:

-           Thứ nhất được ký kết giữa các bên có trụ sở thương mại nằm trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau;

-           Thứ hai phải thỏa mãn ít nhất một trong ba yếu tố sau đây:

  • + Hàng hóa phải được chuyên chở hoặc phải được chuyên chở từ lãnh thổ của quốc gia này đến lãnh thổ của quốc gia khác;
  • + Khi mà những hành vi thể hiện sự chào hàng và chấp nhận chào hàng được thực hiện trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau;
  • +Khi việc giao hàng phải được thực hiện trên lãnh thổ của quốc gia khác không phải là nơi thực hiện những hành vi chào hàng và chấp nhận chào hàng.
  • +Công ước Vienna 1980 về mua bán hàng hoá quốc tế không quy định về khái niệm hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế. Nhưng tại điều 1 của Công ước Vienna 1980 đã gián tiếp xác định phạm vi của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế như sau:

"1.Công ước này áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau.

a. Khi các quốc gia này là các quốc gia thành viên của Công ước hoặc

b. Khi theo các quy tắc tư pháp quốc tế thì luật được áp dụng là luật của nước thành viên Công ước này.

2. Sự kiện các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau không tính đến nếu sự kiện này không xuất phát từ hợp đồng từ các mối quan hệ đã hình thành hoặc vào thời điểm ký hợp đồng giữa các bên hoặc là từ việc trao đổi thông tin giữa các bên.

3. Quốc tịch của các bên quy chế dân sự hoặc thương mại của họ tính chất dân sự hay thương mại của hợp đồng không được xét tới khi xác định phạm vi áp dụng của Công ước này."

Như vậy khác với Công ước La Haye 1964 theo quy định của Công ước Vienna 1980 thì yếu tố quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế được xác định bởi một yếu tố duy nhất là trụ sở thương mại của các bên phải đặt tại các nước khác nhau mà không phụ thuộc vào địa điểm ký kết hợp đồng và cũng không xét đến việc hàng hoá có được dịch chuyển qua biên giới hay không(5).

  • Luật thương mại năm 2005 của Việt Nam không định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế nhưng có định nghĩa về mua bán hàng hoá quốc tế tại điều 27 - Luật Thương mại 2005 như sau:

"1. Mua bán hàng hoá quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu nhập khẩu tạm nhập tái xuất tạm xuất tái nhập và chuyển khẩu.

2. Mua bán hàng hoá quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương."

Từ những quy định pháp luật quốc tế và Việt Nam có thể rút ra những đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế bao gồm:

  • -Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là sự thoả thuận ý chí giữa các thương nhân có trụ sở kinh doanh đặt ở các quốc gia khác nhau theo đó một bên gọi là Bên xuất khẩu có nghĩa vụ giao hàng và chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho một bên khác gọi là Bên nhập khẩu và nhận thanh toán; và Bên nhập khẩu có nghĩa vụ thanh toán cho Bên xuất khẩu nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận.
  • -Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là hợp đồng song vụ: mỗi bên ký kết hợp đồng đều có nghĩa vụ đối với nhau. Bên xuất khẩu có nghĩa vụ giao hàng cho Bên nhập khẩu còn Bên nhập khẩu có nghĩa vụ thanh toán cho Bên xuất khẩu
  • -Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là hợp đồng có đền bù: bên có nghĩa vụ thì cũng có quyền lợi và ngược lại. Bên nhập khẩu được hưởng quyền lợi nhận hàng và đổi lại phải có nghĩa vụ trả tiền cân xứng với giá trị đã được giao. Ngược lại Bên xuất khẩu nhận được tiền phải có nghĩa vụ giao hàng. (6)

More...

Một số ý kiến bàn luận về các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (tiếp theo)

By Đỗ Minh Ánh


 

2.3. Kiến nghị phương hướng hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế:

 2.3.1. Xây dựng hệ thống khái niệm cụ thể: Mua bán hàng hóa mua bán hàng hóa quốc tế hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế... sao cho phù hợp với Công ước Vienna 1980 và trên cơ sở định nghĩa hợp đồng mua bán tài sản của Bộ luật dân sự 2005. Theo hướng đề xuất như sau:

Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận.

Mua bán hàng hóa quốc tế là "mua bán hàng hóa được thực hiện giữa bên bán và bên mua có trụ sở thương mại ở hai quốc gia khác nhau.

Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là sự thoả thuận ý chí giữa các thương nhân có trụ sở kinh doanh đặt ở các quốc gia khác nhau theo đó một bên gọi là Bên xuất khẩu có nghĩa vụ giao hàng và chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho một bên khác gọi là Bên nhập khẩu và nhận thanh toán; và Bên nhập khẩu có nghĩa vụ thanh toán cho Bên xuất khẩu nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận.

Lấy tiêu chí trụ sở thương mại của các bên tham gia quan hệ mua bán hàng hải để xác định yếu tố "quốc tế" của mua bán hàng hóa và hợp đồng mua bán hàng hóa chứ không căn cứ vào yếu tố xuất khẩu nhập khẩu như hiện nay.

2.3.2. Cần quy định cụ thể về các hình thức tương đương với văn bản thỏa thuận của mua bán hàng hóa quốc tế:

•-                     Điện báo

•-                     Telex fax

•-                     Thông điệp dữ liệu.

•-                     Các hình thức khác theo quy định của pháp luật.

Các hình thức tương đương với văn bản đã được ghi nhận tại khoản 15 - điều 3 - Luật Thương mại 2005 và trong các văn bản pháp luật về thương mại điện tử. Tuy nhiên điều kiện có hiệu lực của các hình thức tương đương với văn bản trong mua bán hàng hoá thì chưa được quy định tại bất kỳ văn bản pháp luật nào. Vì vậy cần có những quy định cụ thể về vấn đề này để tránh khỏi những tranh chấp có liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hoá có thể phát sinh. Ngoài ra cần quy định rõ trong các văn bản pháp luật chuyên ngành về "hình thức khác" gồm những hình thức nào?

2.3.3. Trên cơ sở Công ước Vienna 2005 về hợp đồng mua bán hàng hoá các quy định chung về hợp đồng mua bán tài sản của Bộ luật dân sự 2005 quy định về mua bán hàng hoá của Luật Thương mại 2005 bổ sung một số quy định cụ thể về vấn đề:

•-                     Thủ tục giao kết thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

•-                     Các điều khoản cơ bản của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

•+                    Giá và phương thức thanh toán của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

•+                    Thời hạn thực hiện hợp đồng mua bán

•+                    Địa điểm giao hàng hoá

•+                    Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá

•+                    Nghĩa vụ người bán nghĩa vụ người mua

•+                    Thời điểm chuyển quyền sở hữu

•+                    Thời điểm chịu rủi ro

•+                    Chi phí vận chuyển

•+                    ...

Có ý kiến cho rằng việc xây dựng các quy định nêu trên là không cần thiết vì đã được quy định trong Công ước Vienna 1980 về hợp đồng mua bán hàng hoá. Nhưng với thực trạng các văn bản pháp luật của Việt Nam về lĩnh vực này còn thiếu đặc biệt là Luật thương mại 2005 chưa chứa đựng những quy phạm pháp luật đủ để tạo ra khung pháp lý cho hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế; do vậy việc nội luật hoá Công ước Vienna 1980 là cần thiết. Hơn thế nữa nên chăng cần ban hành một văn bản quy phạm pháp luật riêng về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế hoặc về hợp đồng thương mại quốc tế nói chung trong đó có hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế. Có thể là: Nghị định về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế hoặc Pháp lệnh về hợp đồng thương mại quốc tế... 


 

KẾT LUẬN

Nhìn chung hệ thống quy phạm pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế còn dàn trải chưa tập trung và cần được sửa đổi bổ sung để hoàn thiện hơn. Muốn vậy chúng ta cần sửa đổi bổ sung đồng bộ tất cả các văn bản pháp luật trong lĩnh vực này từ Luật Thương mại đến các nghị định hướng dẫn các thông tư của các Bộ ngành và văn bản pháp luật trong các lĩnh vực liên quan như: đầu tư doanh nghiệp... Quá trình hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật Việt Nam về mua bán hàng hóa quốc tế không thể tách rời hoàn toàn việc sửa đổi bổ sung các văn bản pháp luật thương mại nói chung bao gồm: thương mại dịch vụ thương mại hàng hóa thương mại đầu tư và các lĩnh vực liên quan mật thiết như: giao dịch điện tử sở hữu trí tuệ... Mục tiêu quan trọng mà chúng ta cần đạt được là các quy định pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia tập quán thương mại quốc tế và phải dựa trên các quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam 2005.    

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

A.     Sách bài viết:

•1.            PGS. TS. Nguyễn Bá Diến (chủ biên) Giáo trình Tư pháp quốc tế Khoa luật ĐHQG Hà Nội NXB Đại học quốc gia Hà Nội 2003

•2.            PGS. TS. Nguyễn Bá Diến (chủ biên) Giáo trình Luật thương mại quốc tế Khoa luật ĐHQG Hà Nội NXB Đại học quốc gia Hà Nội 2005

•3.            Phan Thị Thanh Hồng Một số vấn đề cần lưu ý nhằm đảm bảo hiệu lực pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

http://www.kh-sdh.udn.vn/zipfiles/So21/hong_phanthithanh.doc

•4.            Nguyễn Xuân Công Hợp đồng thương mại quốc tế - Những nội dung doanh nghiệp cần quan tâm. http://vbqppl.moj.gov.vn/ct/tintuc/lists/nghin%20cu%20trao%20i/view_detail.aspx?ItemID=2648

•5.            ThS. Nguyễn Bá Bình Vài suy nghĩ về nội hàm khái niệm cũng như việc xác định tính hợp pháp của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

http://nguyenbabinh.blogspot.com/2008/03/

 

B.     Văn bản pháp luật:

•1.            Công ước La Haye 1964 về luật thống nhất về mua bán hàng hóa quốc tế (Convention relating to a Uniform Law on the International Sale of Goods)

•2.            Công ước Vienna 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods)

•3.            Bộ luật dân sự 2005

•4.            Luật thương mại năm 2005

•5.            Luật giao dịch điện tử năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành

•6.            Nghị định 12/2006/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý mua bán gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài.

•7.            Thông tư 04/2006/TT-BTM của Bộ Thương mại về việc hướng dẫn một số nội dung quy định tại Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua bán gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài.

•8.            Nghị định 23/2007/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
 

9.     Thông tư 09/2007/TT-BTM của Bộ Thương mại về việc hướng dẫn thi hành Nghị định số 23/2007/NĐ-CP ngày 12/02/2007 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

 

(1) Theo điều 388 - Bộ luật Dân sự 2005

(2) Khái niệm hàng hóa đã được nêu tại khoản 2 - điều 3 - Luật Thương mại 2005

(3) Xem Nguyễn Xuân Công Hợp đồng thương mại quốc tế - Những nội dung doanh nghiệp cần quan tâm http://vbqppl.moj.gov.vn/ct/tintuc/lists/nghin%20cu%20trao%20i/view_detail.aspx?ItemID=2648  

(4) Khái niệm thương nhân được quy định tại khoản 1 - điều 6 - Luật Thương mại 2005: là tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập thường xuyên và có đăng kí kinh doanh

(5) Xem PGS. TS. Nguyễn Bá Diến (chủ biên) Giáo trình Luật thương mại quốc tế Khoa luật ĐHQG Hà Nội NXB Đại học quốc gia Hà Nội 2005

(6) Phan Thị Thanh Hồng Một số vấn đề cần lưu ý nhằm đảm bảo hiệu lực pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế http://www.kh-sdh.udn.vn/zipfiles/So21/hong_phanthithanh.doc


 

More...

Tuổi 3x

By Đỗ Minh Ánh

Đây là lần thứ ba trong ngày tôi đổi tên blog. Tôi ghét tuổi 30 hay do dự và lo lắng. Nhưng nếu không trải qua nó thì tôi không thể đến được tuổi 31 như ngày hôm nay. Thời gian qua đã sống vì mọi người xung quanh bây giờ là lúc sống cho mình? Không! "Nếu đã là con chim chiếc lá. Thì con chim phải hót chiếc lá phải xanh. Lẽ nào vay mà không có trả? Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình". Tôi rất thích bốn câu thơ đó của Nhà thơ Tố Hữu. Vậy tuổi 31 ơi hãy cứ hót đi cho dù không hay! Hãy cứ giữ màu xanh tươi trẻ để cống hiến cho dù không nõn nà và lộng lẫy!


Lo
 

Tiếng đồng hồ tích tắc

Nằm đếm giọt mưa rơi

Khuya rồi em chờ đợi

Chơi vơi sẽ qua mau


Lo lắng dành cho nhau

Là tình thương ấm áp

Lỡ mưa thành bão táp

Lo không thể bên anh?


Ước đêm dài qua nhanh

Ngày mai trời lại sáng

Những dòng tin liên lạc

Cho em lại gần anh.

Minh Ánh - 11/08/2010 - 01: 12 am

More...

Lạnh

By Đỗ Minh Ánh


Cơn gió lạnh thổi qua
Bốn bức tường hờ hững
Giữa đêm dài thao thức
Nằm đếm thời gian trôi

Giá rét chỉ mình thôi
Biết tìm đâu ánh lửa?
Cuộc đời bao chọn lựa
Sao nỡ để cô đơn?

Sự ấm áp trong lòng người sẽ xua tan đi sự lạnh giá về thể xác. Mỗi chúng ta luôn phải lựa chọn cho mình cách sống và tự chịu trách nhiệm với sự chọn lựa của chính mình.   

More...

Cha

By Đỗ Minh Ánh


Con ra đời cha đã tuổi về hưu
Xóm làng thương cảnh cha già con cọc
Những năm tháng nuôi đàn con khó nhọc
Cha đã già ở các tuổi chưa già...

Bỏ lại đằng sau cả tuổi trẻ bôn ba
Vệt thời gian hằn sâu trong trí óc
Chỉ một lần con nhìn cha lặng khóc
Bên chuyến tàu tiễn anh cả đi xa

Gió lớn mưa ngập đầy nhà
Con cùng cha tát vội
Bóng đèn cũ hỏng rồi
Con bắc ghế cha thay
Thì ra từ bấy đến nay
Trong lòng con cha vẫn là chỗ dựa...


Đã bảy năm rồi tôi vẫn chưa thể hoàn thành một bài thơ. Đôi khi có những ý nghĩ không thể diễn đạt bằng ngôn ngữ và không phải lúc nào tình cảm cũng cần định lượng bằng cử chỉ. Tôi buộc phải tin như vậy để thấy lòng mình nhẹ nhõm hơn!  

More...

LUẬT SƯ TÂM VÀ TẦM

By Đỗ Minh Ánh


               

                                                                                             Luật sư Đỗ Minh Ánh



                                                                                             (Bài viết năm 2007) 

Nghề nào cũng vậy cho dù là lao động chân tay hay trí óc mỗi người cần phải có niềm tin nhiệt huyết và trí tuệ để làm tốt công việc mà mình đã lựa chọn. Không biết từ bao giờ "tâm" và "tầm" đã trở thành một cặp từ song hành để làm nên tiêu chí đánh giá cho một nghề nghiệp vị trí trong xã hội hiện đại. Đôi khi cặp từ này dành để nói đến phẩm chất của những nhà báo nhà giáo; có lúc lại được dùng để nhắc đến sự đòi hỏi đối với một nhà lãnh đạo trong thời kỳ mới.

 

Bắt đầu từ một chữ "tâm"

Có nhiều cách lý giải khác nhau về chữ "tâm". "Tâm" theo nghĩa đen có nghĩa là trái tim. Hiểu rộng hơn theo ý nghĩa xã hội thì "tâm" là lương tâm ý chí lòng kiên quyết của con người. Đối với nghề y nghề giáo thì có lẽ chữ "đức" được coi trọng hơn cả đối với một doanh nhân thì chữ "tín" được đặt lên hàng đầu. Còn đối với nghề luật sư thì chắc hẳn chữ "tâm" là điều đáng trọng thị.

Chữ "tâm" là một phạm trù trừu tượng ẩn chứa trong sâu thẳm mỗi con người. "Tâm" của nghề luật sư cũng giống như các nghề khác là một điều không thể định lượng nhưng có thể được biểu hiện bằng sự yêu nghề tinh thần trách nhiệm và sự phấn đấu nghiêm túc trong sáng. Mặc dù vậy chữ "tâm" ấy khó có thể tìm được chuẩn mực để đo lường và đánh giá độ nông-sâu sáng - tối. Vả lại "tâm" con người nếu được chủ động sắp đặt để thể hiện ra bên ngoài thì sẽ không còn là chữ "tâm" đích thực nữa. Từ khi bước vào nghề mỗi luật sư đã có quyền tự hào rằng mình có sẵn một chữ "tâm" trong sáng khi lựa chọn nghề "bảo vệ công lý". Nhưng để giữ "tâm" đó mãi trong sáng như ban đầu trong suốt quá trình hành nghề quả là điều không dễ. Nghề luật sư là một nghề độc lập những quan điểm cá nhân không tránh khỏi là yếu tố chi phối lớn đối với công việc. Có được chữ "tâm" luật sư sẽ có thể chiến thắng "cái tôi" cá nhân để đặt nhiệm vụ bảo vệ công lý lên cao nhất và luôn coi trọng quyền lợi hợp pháp của thân chủ. "Tâm" giúp người luật sư gắng sức để vớt lấy phần "người" ra khỏi phần "con" trong "con người" tội phạm để không lạnh lùng quay đi trước những điều bất bằng phi lý nhưng cũng là để phân định rõ ranh giới giữa việc bảo vệ lợi ích chung của xã hội và chạy theo lợi ích riêng của một thiểu số. Người luật sư có "tâm" sẽ luôn biết đấu trí để tìm ra những phương án giải quyết tối ưu vì lợi ích hợp pháp của khách hàng. Chữ "tâm" ấy cũng thúc đẩy luật sư hành nghề sao cho để lại ấn tượng đẹp trong lòng khách hàng xử sự đúng mực với đồng nghiệp. Cho dù gặp trở ngại tới mấy trong nghề nghiệp luật sư vẫn có thể vượt qua nhờ có "tâm" không ngại khó. Vậy là nhờ có chữ "tâm" luật sư có được cả chữ "tín" chữ "đức" và chữ "nhẫn".

Chữ "tầm" liền với chữ "tâm" một vần

Trước ngưỡng cửa WTO đang rộng mở khi mà Việt Nam đang đón nhận cả cơ hội và thử thách chữ "tâm" của người luật sư càng trở nên cần thiết nhưng vẫn chưa đủ. Bên cạnh chữ "tâm" luật sư còn được đòi hỏi có trình độ kiến thức và kinh nghiệm để đáp ứng được yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Những đòi hỏi đó có thể cô đọng trong chữ "tầm". "Tầm" được hiểu là tầm trí tuệ tầm năng lực của luật sư.

Như một quy luật tự nhiên những cơ hội mở ra trước mắt đem đến cho giới luật sư niềm lạc quan bao nhiêu thì lại đặt ra bên cạnh đó bấy nhiêu thử thách. Thử thách trước tiên là đứng trước một hệ thống pháp luật quốc tế đa dạng và phức tạp trong hoàn cảnh công cuộc cải cách pháp luật của Việt Nam cho tương thích với pháp luật quốc tế tuy đã được thực hiện gấp rút nhưng vẫn còn dang dở. Một thử thách thuộc về mặt chủ quan đối với luật sư Việt Nam đó là phải đương đầu với sự cạnh tranh quyết liệt và quy luật đào thải công bằng trong môi trường hành nghề mà ở đó ưu thế thuộc về những người có kinh nghiệm quốc tế và thông hiểu toàn diện chứ không chỉ bó hẹp trong phạm vi pháp luật trong nước. Hiện nay trong số 3500 luật sư cả nước tỷ lệ các luật sư đã tham gia vào lĩnh vực tư vấn thương mại doanh nghiệp quốc tế là thấp và chỉ tập trung vào số lượng nhỏ các Văn phòng Luật sư đã có điều kiện thường xuyên làm việc với khách hàng nước ngoài. Vậy thiết nghĩ số lượng luật sư này có đủ để đáp ứng cho nhu cầu bùng phát quan hệ thương mại quốc tế trong tương lai hay lại phải chấp nhận thực trạng các luật sư nước ngoài lại chiếm ưu thế về uy tín trong lĩnh vực này?

Không còn cách nào khác luật sư phải chủ động nâng cao trình độ để đủ sức cạnh tranh trong chính môi trường hành nghề của mình. Bởi xét cho cùng luật sư cũng là một ngành dịch vụ và hơn nữa lại là một dịch vụ trung gian hiện đại trong nền kinh tế xã hội và cũng không nằm ngoài quy luật của cạnh tranh bình đẳng khi hội nhập kinh tế quốc tế. Luật luật sư đã ra đời chính thức quy định hình thức tổ chức hành nghề 100% vốn nước ngoài và liên doanh. Vì vậy các luật sư Việt Nam phải sớm trang bị cho mình khả năng nhạy bén với chính sách kinh tế pháp luật. Nếu chậm chỉ một bước thôi luật sư Việt Nam sẽ có nguy cơ tụt hậu trong môi trường cạnh tranh hành nghề. Để vững vàng vượt qua được tất cả những thử thách này Luật sư cần có đủ các tố chất: kiến thức kinh nghiệm và kỹ năng phải tự làm mới mình nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý lên ngang "tầm" quốc tế.

Dù không quá coi nhẹ chữ "tầm" nhưng có lẽ chữ "tâm" vẫn là quan trọng và tiền đề. "Tầm" của luật sư có thể thay đổi theo thời đại hoàn cảnh kinh tế và có thể xác định qua tiêu chí cụ thể; còn chữ "tâm" của luật sư thì thời nào vẫn vậy cho dù chưa ai có thể tìm ra tiêu chí để đánh giá.

 

"Tâm" và "tầm" luôn là hai yếu tố song hành và bổ trợ cho nhau. Nhờ chữ "tâm" mỗi luật sư mới có nhiệt huyết động lực để nâng cao trình độ của mình. Mặt khác một luật sư đủ "tầm" sẽ có đủ tự tin và bản lĩnh để giữ vững chữ "tâm" trong sáng.

More...

Say - Nói

By Đỗ Minh Ánh

 

Có lẽ nào anh chỉ yêu em

Trong giây phút say lòng phiêu lãng

Chẳng biết liệu men tình choáng váng

Sẽ cho ta sống thật với mình?


Ước cuộc đời chẳng phải lưu linh

Để lý trí được yêu mà chân thực

Dù xa cách nhưng lòng không ngờ vực

Có lúc nào anh sực tỉnh bên em?


Vẫn là vậy một cơn say giữa đêm

Lời thì thầm vô tình thêm đắng chát

Xé nát lòng nghe tiếng cười nhạt

Tổn thương này biết chia sẻ cùng ai?


Em bật khóc khi trằn trọc sớm mai

Tự hỏi rằng mình điên do quá tỉnh?

Khi say rồi làm sao còn dự tính?

Điều lớn lao đang dần mất trong anh!


Trong cơn say tôi thường nói mà không suy nghĩ nhưng sau cơn say tôi thường nghĩ rất nhiều mà không thể nói nên lời! May thay  rất hiếm khi tôi say./. 

Minh Ánh

More...