NHÌN LẠI HỆ THỐNG QUY PHẠM TƯ PHÁP QUỐC TẾ VIỆT NAM


                                                                                                 LS. Đỗ Minh Ánh

Tại Việt Nam hiện nay Tư pháp quốc tế được hiểu theo hai giác độ: với tư cách là một ngành luật độc lập và với tư cách là một bộ môn khoa học pháp lý độc lập. Bài viết này sẽ đề cập đến Tư pháp quốc tế ở giác độ thứ nhất bao gồm một hệ thống quy phạm pháp luật tư pháp quốc tế điều chỉnh các quan hệ pháp luật dân sự (theo nghĩa rộng) và tố tụng dân sự có yếu tố nước ngoài. Nghiên cứu hệ thống quy phạm tư pháp quốc tế Việt Nam có ý nghĩa quan trọng giúp chúng ta đi từ cái nhìn tổng thể đến chi tiết về các quy phạm tư pháp quốc tế. Từ đó chúng ta có thể đánh giá bình luận những điểm tiến bộ bất cập của hệ thống quy phạm Tư pháp quốc tế Việt Nam. Kết quả nghiên cứu vấn đề này sẽ góp phần vạch ra cơ sở lý luận và thực tiễn cho những phương hướng xây dựng hoàn thiện hệ thống quy phạm Tư pháp quốc tế Việt Nam.

1. Xác định phạm vi hệ thống quy phạm Tư pháp quốc tế Việt Nam:

Việt Nam cũng như một số quốc gia trên thế giới chưa có một đạo luật chuyên biệt để pháp điển hoá các quy định Tư pháp quốc tế. Tuy nhiên các quy phạm tư pháp quốc tế của Việt Nam được bố trí nằm rải rác trong nhiều văn bản pháp luật hiện hành. Hệ thống quy phạm Tư pháp quốc tế Việt Nam bao gồm:

  • Các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự (theo nghĩa rộng) có yếu tố nước ngoài:
  • + Các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự (theo nghĩa hẹp) có yếu tố nước ngoài
  • + Các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ thương mại có yếu tố nước ngoài
  • + Các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ kinh tế (kinh doanh/đầu tư) có yếu tố nước ngoài
  • + Các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài
  • + Các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài.
  • Các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ tố tụng dân sự có yếu tố nước ngoài.

Theo đó có thể "điểm mặt" những văn bản pháp luật điển hình chứa đựng các quy phạm Tư pháp quốc tế Việt Nam bao gồm:

  • Hiến pháp: điều 14 điều 24 điều 25 điều 75 điều 81
  • Lĩnh vực Dân sự:
  • - Bộ luật dân sự 2005: Phần thứ bảy: Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài (điều 758 đến điều 777)
  • - Nghị định 138/2006/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.
  • - Luật quốc tịch 2008
  • Lĩnh vực kinh doanh:
  • - Nghị định 101/2006/NĐ-CP về Quy định việc đăng ký lại chuyển đổi và đăng ký đổi Giấy chứng nhận đầu tư của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư.
  • - Nghị định 108/2009/NĐ-CP của Chính phủ về đầu tư theo hình thức Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao Hợp đồng Xây dựng - Chuyển Giao - Kinh doanh Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao.
  • - Thông tư 134/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế áp dụng đối với tổ chức cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập tại Việt Nam.
  • Lĩnh vực thương mại:
  • - Nghị định 23/2007/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
  • - Nghị định 12/2006/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý mua bán gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài.
  • - Nghị định 72/2006/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam.
  • - Nghị định 90/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định về quyền xuất khẩu quyền nhập khẩu của thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam.
  • - Nghị định 53/2009/NĐ-CP của Chính phủ về phát hành trái phiếu quốc tế.
  • - Nghị định 160/2006/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Ngoại hối.
  • Lĩnh vực hôn nhân và gia đình:
  • - Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (Chương XI: Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài từ điều 100 đến điều 106).
  • - Nghị định 68/2002/NĐ-CP của Chính phủ quy định thi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.
  • - Nghị định 69/2006/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài của Luật Hôn nhân và Gia đình.
  • - Thông tư 08/2006/TT-BTP của Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn thực hiện một số quy định về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
  • Lĩnh vực lao động:
  • - Bộ luật lao động năm 1994 sửa đổi năm 2002 và năm 2007 (Mục V - Chương XI: Lao động cho tổ chức cá nhân nước ngoài tại Việt Nam người nước ngoài lao động tại Việt Nam lao động ở nước ngoài).
  • - Luật người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài năm 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
  • Lĩnh vực tố tụng dân sự:
  • - Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (Phần thứ chín: Thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài và tương trợ tư pháp trong tố tụng dân sự).
  • - Luật tương trợ tư pháp năm 2007
  • - Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003
  • Hiệp định song phương
  • - Các Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và một số nước trên thế giới.
  • - Các hiệp định về nuôi con nuôi giữa Việt Nam và một số nước trên thế giới.
  • - Các hiệp định thương mại giữa Việt Nam và một số nước trên thế giới.

2. Mô hình hệ thống quy phạm Tư pháp quốc tế Việt Nam:

Việt Nam là một trong những quốc gia có quan điểm về khái niệm Tư pháp quốc tế với tư cách là một ngành luật có phạm vi điều chỉnh rộng bao gồm: các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm: quan hệ dân sự kinh tế thương mại hôn nhân gia đình lao động có yếu tố nước ngoài phát sinh giữa các thể nhân và pháp nhân. Như đã phân tích Việt Nam chưa có một đạo luật Tư pháp quốc tế chuyên biệt như một số quốc gia ví dụ: Nhật Bản có Luật tư pháp quốc tế năm 1893 Thái Lan có Luật tư pháp quốc tế năm 1939 Tiệp Khắc (cũ) có Luật tư pháp quốc tế năm 1963 Ba Lan có Luật tư pháp quốc tế năm 1965. Theo cách thức thể hiện khác Việt Nam giống như một số nước trên thế giới có phân bố rải rác các quy phạm Tư pháp quốc tế trong nhiều đạo luật khác nhau. Trong phạm vi từng bộ luật luật ... đã đưa ra các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài và các quan hệ có yếu tố nước ngoài đó phần lớn lại được hướng dẫn điều chỉnh cụ thể hơn trong các nghị định thông tư. Điều đó cho thấy trong quá trình xây dựng pháp luật Việt Nam đã bước đầu chuẩn bị được một hệ thống quy phạm Tư pháp quốc tế đáp ứng việc điều chỉnh các quan hệ dân sự kinh tế thương mại lao động hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Một số minh chứng:

  • Bộ luật dân sự Việt Nam năm 1995 đánh dấu một bước tiến lớn trong quá trình phát triển của Tư pháp quốc tế Việt Nam bằng việc đưa ra những nguyên tắc chung của Tư pháp quốc tế như: nguyên tắc áp dụng pháp luật Việt Nam điều ước quốc tế tập quán quốc tế nguyên tắc áp dụng pháp luật nước ngoài... Kế thừa Bộ luật dân sự năm 1995 Bộ luật dân sự 2005 cũng dành phần thứ bảy: Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài từ điều 758 đến điều 777. Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 1995 thì quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được hiểu là các quan hệ dân sự có người nước ngoài pháp nhân nước ngoài tham gia hoặc căn cứ để xác lập thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ đó phát sinh ở nước ngoài hoặc tài sản liên quan tới quan hệ đó ở nước ngoài. Nhưng theo quy định tại Điều 758 Bộ luật dân sự năm 2005 chủ thể của các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được mở rộng thêm "Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan tổ chức cá nhân nước ngoài người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập thay đổi chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan tới quan hệ đó ở nước ngoài"
  • Luật hôn nhân gia đình 2000 dành hẳn một chương riêng: Chương XI: Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nhằm quy định những nguyên tắc chung và phương pháp giải quyết xung đột về kết hôn ly hôn nuôi con nuôi giám hộ có yếu tố nước ngoài về áp dụng pháp luật nước ngoài...
  • Ngoài ra nhiều đạo luật khác của Việt Nam cũng chứa đựng ít nhiều các quy phạm pháp luật tư pháp quốc tế như : Luật quốc tịch Luật đầu tư Luật Thương mại ... Các văn bản dưới luật cũng có chứa đựng các quy phạm Tư pháp quốc tế như: Nghị định 23/2007/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Nghị định 12/2006/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý mua bán gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài

3. Một vài điểm bất cập trong quá trình áp dụng quy phạm tư pháp quốc tế:

  • Khoản 3 - điều 759 - Bộ luật dân sự 2005 quy định: "Trong trường hợp Bộ luật này các văn bản pháp luật khác của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật nước ngoài thì pháp luật của nước đó được áp dụng nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trường hợp pháp luật nước đó dẫn chiếu trở lại pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì áp dụng pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam". Tuy nhiên trong điều luật này lại không quy định trường "khi pháp luật nước đó dẫn chiếu đến pháp luật nước thứ ba". Bộ luật dân sự năm 1995 cũng không có quy định về vấn đề này nhưng tại khoản 3 - điều 5 - Nghị định 60/CP thì "...nếu pháp luật của nước đó dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ ba thì áp dụng pháp luật của nước thứ ba". Rất tiếc Nghị định 138/2006/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thay thế Nghị định 60/CP lại không kế thừa quy định này.
  • Theo khoản 2 - điều 3 - Nghị định 138/2006/NĐ-CP: "Người nước ngoài" là người không có quốc tịch Việt Nam bao gồm người có quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch. Căn cứ vào định nghĩa này người mang cả hai quốc tịch Việt Nam và nước ngoài sẽ không được coi là "người nước ngoài". Do vậy khi tham gia giao dịch dân sự với một cá nhân hoặc pháp nhân Việt Nam tại Việt Nam thì sẽ không được coi là giao dịch dân sự có yếu tố nước ngoài theo điều 758 - Bộ luật dân sự 2005. Trong khi một người chỉ có quốc tịch Việt Nam mà chưa nhập quốc tịch nước ngoài đang cư trú làm ăn sinh sống lâu dài ở nước ngoài thì căn cứ khoản 3 - điều 3 - Nghị định 138/2006/NĐ-CP là người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Do đó khi tham giao giao dịch dân sự với một cá nhân hoặc pháp nhân Việt Nam thì lại được coi là giao dịch dân sự có yếu tố nước ngoài theo điều 758 - Bộ luật dân sự 2005. Điều đó liệu có hợp lý? Khái niệm "người nước ngoài" có lẽ cần phải sửa đổi!
  • Theo khoản 5 - điều 3 - Luật đầu tư 2005: "Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam." Nhưng trên thực tế Việt kiều mang cả hai quốc tịch Việt Nam và nước ngoài vẫn bị coi là người nước ngoài và nếu tham gia góp vốn đầu tư tại Việt Nam vẫn áp dụng các quy định hạn chế về tỷ lệ vốn góp tối đa trong doanh nghiệp như trường hợp nhà đầu tư nước ngoài. Vấn đề này cần được làm rõ: người hai quốc tịch Việt Nam và nước ngoài đầu tư tại Việt Nam là nhà đầu tư nước ngoài hay nhà đầu tư trong nước?
  • Về khái niệm "người Việt Nam định cư ở nước ngoài" cũng chưa được quy định rõ ràng trong Luật quốc tịch Bộ luật dân sự và Nghị định 138/2006/NĐ-CP. Theo quy định tại khoản 2 và 3 - Điều 4 - Luật Quốc tịch thì " Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú làm ăn sinh sống lâu dài ở nước ngoài. Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con cháu của họ đang cư trú sinh sống lâu dài ở nước ngoài". Vậy thời hạn bao lâu thì được xác định là "lâu dài"? Vấn đề xác định một đương sự trong vụ án dân sự có phải là "người Việt Nam định cư ở nước ngoài" hay không sẽ dẫn đến hệ quả xem xét vụ án có yếu tố nước ngoài hay không và thuộc thẩm quyền của toà án cấp huyện hay cấp tỉnh.
  • Theo khoản 4 - điều 16 - Luật thương mại 2005: "Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thương nhân nước ngoài thành lập tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên thì được coi là thương nhân Việt Nam". Và khoản 1 - điều 16 - Luật thương mại 2005 quy định "Thương nhân nước ngoài là thương nhân được thành lập đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc được pháp luật nước ngoài công nhận". Trong khi Luật đầu tư sử dụng thuật ngữ "nhà đầu tư nước ngoài". Như vậy là có những tên gọi khác nhau giữa các văn bản quy phạm pháp luật nhằm để chỉ một đối tượng giống nhau và cùng là chủ thể của Tư pháp quốc tế.
  • Theo quy định tại đoạn 2 - khoản 3 - điều 759 - Bộ luật dân sự 2005: "Pháp luật nước ngoài cũng được áp dụng trong trường hợp các bên có thoả thuận trong hợp đồng nếu sự thoả thuận đó không trái với quy định của Bộ luật này và các văn bản pháp luật khác của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam". Trong khi ở đoạn 1 - khoản 3 - điều 759 quy định: "Trong trường hợp Bộ luật này các văn bản pháp luật khác của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật nước ngoài thì pháp luật của nước đó được áp dụng nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam...". Nếu áp dụng đúng theo đoạn 2 - khoản 3 - điều 759 thì các bên ký kết hợp đồng hầu như không có quyền lựa chọn pháp luật nước ngoài. Bởi lẽ nội dung cụ thể của pháp luật nước ngoài trái với các quy phạm của Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật khác là điều dễ xảy ra. Đoạn 2 - khoản 3 - điều 759 - Bộ luật dân sự 2005 cần quy định giống như đoạn 1 được sửa đổi thành: "...nếu pháp luật nước ngoài đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam...".
  • Khoản 3 - điều 2 - Bộ luật dân sự 2005 quy định: "Bộ luật dân sự được áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác". Trong khi đó khoản 1 - điều 759 của Bộ luật dân sự 2005 quy định: "Các quy định của pháp luật dân sự Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác". Hai điều luật nêu trên đều xác định cùng một vấn đề là pháp luật Việt Nam được áp dụng đối vi quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Nhưng hai điều luật có nội dung không phù hợp với nhau. Đó là khoản 3- điều 2 quy định: "Bộ luật Dân sự" còn khoản 1 - điều 759 thì quy định: "các quy định của pháp luật dân sự" - là quy định rộng hơn Bộ luật dân sự gồm cả các quy định trong các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật dân sự. Vế sau của hai quy phạm đó cũng không phù hợp nhau: khoản 3 - điều 2 quy định: "trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác" còn khoản 1 - điều 759 thì quy định: "trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác". Hai quy định này có hai nội dung khác nhau đặt việc thực hiện pháp luật vào tình thế phải thực hiện cả hai trường hợp hoặc là chỉ thực hiện một trong hai trường hợp đó. Hơn nữa quy định: "trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác" dễ dẫn đến trường hợp loại bỏ việc áp dụng Bộ luật dân sự 2005 đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Chẳng hạn khoản 2 - điều 759 quy định áp dụng điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên - là "quy định khác" theo cách hiểu đó nhưng nếu điều ước quốc tế quy định dẫn chiếu đến áp dụng pháp luật dân sự Việt Nam thì có áp dụng hay không?. (Trường hợp này không có quy định giải thích như trường hợp pháp luật nước ngoài dẫn chiếu trở lại pháp luật Việt Nam - khoản 3 Điều 759).[1] Rõ ràng sự không thống nhất về phạm vi và thuật ngữ đã nảy sinh những sự mâu thuẫn trong thực tiễn áp dụng pháp luật.

          3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống quy phạm Tư pháp quốc tế Việt Nam:

  • Cần thống nhất lại một số khái niệm được đề cập trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau có liên quan đến Tư pháp quốc tế của Việt Nam:
  • - Khái niệm "Cư trú" quy định trong Bộ luật dân sự Luật quốc tịch và Luật thuế thu nhập cá nhân.
  • - "Người nước ngoài" "pháp nhân nước ngoài" được quy định trong Nghị định 138/2006/NĐ-CP và "nhà đầu tư nước ngoài" được quy định trong Luật đầu tư "thương nhân nước ngoài" được quy định trong Luật thương mại.
  • Cần bổ sung điều kiện tiêu chí cụ thể hơn để xác định một người có phải là "người Việt Nam định cư ở nước ngoài hay không"?. Ví dụ: tối thiểu 5 năm sinh sống hoặc lao động ở nước ngoài mới được coi là "lâu dài".
  • Cần bổ sung thêm quy định trong trường hợp pháp luật Việt Nam dẫn chiếu đến pháp luật nước ngoài mà pháp luật nước đó lại dẫn chiếu đến pháp luật nước thứ ba nếu không trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam thì có áp dụng pháp luật nước thứ ba hay không?
  • Cần rà soát lại các quy phạm pháp luật trong cùng một bộ luật luật để tránh những điểm mâu thuẫn như điều 2 và điều 759 - Bộ luật dân sự 2005.
  • Cần sớm ban hành quy phạm Tư pháp quốc tế điều chỉnh vấn đề xác định tư cách góp vốn mua cổ phần của người mang hai quốc tịch Việt Nam và nước ngoài. Hiện nay Bộ Tài chính đang soạn Dự thảo Thông tư hướng dẫn việc góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam theo hướng: Nếu nhà đầu tư là cá nhân vừa mang quốc tịch nước ngoài vừa có quốc tịch Việt Nam có địa chỉ thường trú ở nước ngoài thì được xem là nhà đầu tư nước ngoài. Nếu nhà đầu tư đó có địa chỉ thường trú ở Việt Nam thì chỉ được lựa chọn một trong hai tư cách: hoặc là nhà đầu tư nước ngoài hoặc là nhà đầu tư trong nước. Sau khi đã chọn thì chỉ được sử dụng duy nhất tư cách đó để thực hiện các hoạt động góp vốn mua cổ phần. Đó sẽ là một giải pháp hợp lý để tránh những cách hiểu thiếu thống nhất trong thực tiễn hiện nay.
  • Trong Bộ luật dân sự 2005 Luật thương mại 2005 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 Bộ luật lao động năm 1994 (sửa đổi bổ sung năm 2002 2006 và 2007)... đều đã dành riêng một chương hoặc một phần điều chỉnh quan hệ có yếu tố nước ngoài tương ứng với từng văn bản luật. Tuy nhiên Luật Doanh nghiệp và Luật đầu tư với tư cách là hai đạo luật quan trọng trong lĩnh vực kinh doanh thì chưa có phần chương riêng để điều chỉnh quan hệ kinh doanh có yếu tố nước ngoài. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư nước ngoài được điều chỉnh chung với doanh nghiệp trong nước và nhà đầu tư trong nước. Điều đó thể hiện sự bình đẳng giữa các chủ thể trong lĩnh vực kinh doanh nhưng xuất phát từ lý do nhà đầu tư nước ngoài doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là những đối tượng đặc biệt nên cần một số quy định cụ thể hơn và nên được dành một chương hoặc phần trong Luật Doanh nghiệp và Luật đầu tư. Ví dụ: quyền góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài: điều kiện hạn chế hơn so với nhà đầu tư trong nước; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: chế độ báo cáo tài chính kiểm toán chặt chẽ hơn doanh nghiệp trong nước (phải quyết toán thuế hàng năm và có xác nhận kiểm toán)... Thực tế các quy định pháp luật này đã có nhưng chưa được quy định tập trung trong một phần hoặc chương cụ thể của Luật Doanh nghiệp và Luật đầu tư.
  • Cần xây dựng đầy đủ hoàn thiện hệ thống quy phạm xung đột hướng dẫn chọn pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Phần lớn văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành hiện nay đều có chứa đựng quy phạm xung đột. Ví dụ: Luật Thương mại 2005 Luật Hôn nhân và gia đình 2000... Bộ luật Dân sự là đạo luật gốc và chứa đựng nhiều quy phạm xung đột nhất nhưng chủ yếu chỉ điều chỉnh những vấn đề dân sự đã được đề cập trong phần trước. Ở nước một số nước trên thế giới một đạo luật chuyên biệt xử lý xung đột pháp luật được ban hành. Ví dụ: Thụy Sĩ có luật về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Song cũng có nước để quy phạm xung đột pháp luật trong luật chuyên ngành như Pháp quy định trong các văn bản do Nghị viện ban hành phần còn lại do tòa án thiết lập. Đối với thực tiễn ở Việt Nam có lẽ trước mắt cần hoàn thiện các quy phạm xung đột trong các đạo luật chuyên ngành và tiến đến pháp điển hoá thành một đạo luật chuyên biệt về quan hệ dân sự (theo nghĩa rộng) có yếu tố nước ngoài. Đạo luật chuyên biệt đó sẽ không chỉ chứa đựng các quy phạm xung đột[2] mà còn chứa đựng các quy phạm thực chất[3] của Tư pháp quốc tế Việt Nam.
Nhìn chung hệ thống quy phạm Tư pháp quốc tế Việt Nam hiện nay đang trong giai đoạn xây dựng và hoàn thiện cùng với hệ thống văn bản pháp luật quốc gia nói chung. Hệ thống quy phạm Tư pháp quốc tế Việt Nam có thể được đánh giá là non trẻ nhưng phần nào đã dành được một vị trí riêng biệt độc lập trong Bộ luật dân sự - đạo luật gốc và nhiều đạo luật chuyên ngành. Tuy nhiên với sự đa dạng của các quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài và quá trình giao lưu về kinh tế thương mại với các nước trên thế giới hệ thống quy phạm tư pháp quốc tế của Việt Nam còn đòi hỏi phải dự liệu được nhiều hơn nữa những vấn đề pháp lý nảy sinh đặc biệt là những xung đột pháp luật. Quá trình nghiên cứu về hệ thống quy phạm tư pháp quốc tế không chỉ dừng lại ở việc đưa ra những bình luận đánh giá mà còn phải nhằm mục đích thiết thực hơn là vạch ra phương hướng mô hình lý luận để giúp cho hệ thống quy phạm đó khắc phục những bất cập và được bổ sung sửa đổi kịp thời. 



 


[1] Theo Th.S. Nguyễn Bá Chiến - Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Pháp luật triệt tiêu pháp luật Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 74 tháng 4/2006.

[2] Quy phạm xung đột là quy phạm đặc thù nhằm quy định hệ thống pháp luật nước nào sẽ được áp dụng  để điều chỉnh một quan hệ Tư pháp quốc tế nhất định

[3] Quy phạm thực chất là quy phạm trực tiếp quy định quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể tham gia quan hệ Tư pháp quốc tế.

Database error

ERROR From DB mySQL

DB Error: Database query failed!
» Error No: 1062
» Error detail: Duplicate entry '11700399' for key 'PRIMARY'
» Query: INSERT INTO bd_estore_online_users (id,store_id,sid,uid,username,usertype,ip,last_updated,last_page) VALUES (NULL,'19665','gvf33ovrv911qu1a8n1a6gk7e2','0','Guest','0','54.225.59.14','2018-09-23 21:15:43','/a253942/nhin-lai-he-thong-quy-pham-tu-phap-quoc-te-viet-nam.html')