Một số ý kiến bàn luận về các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

                                                                                                                    Luật sư Đỗ Minh Ánh

Hoạt động thương mại bao gồm mua bán hàng hóa cung ứng dịch vụ đầu tư xúc tiến thương mại và hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Trong đó mua bán hàng hóa quốc tế là một trong những vấn đề quan trọng của Luật thương mại nói chung và Luật thương mại quốc tế nói riêng. Hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế được điều chỉnh bởi các văn bản quy phạm pháp luật quốc tế như: Công ước Vienna 1980 Incoterms 2000 Công ước Rome 2008... Trong hệ thống pháp luật quốc gia Việt Nam tuy các quy định pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế chưa được định hình rõ nét nhưng hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế đã được điều chỉnh bởi một số quy phạm pháp luật trong Bộ luật dân sự 2005 Luật thương mại 2005 các văn bản hướng dẫn thi hành. Nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam về mua bán hàng hóa quốc tế trở nên rất cần thiết để nâng cao hiểu biết về những vấn đề liên quan đến mua bán hàng hóa quốc tế; mặt khác nhằm tìm ra những điểm bất cập còn tồn tại chưa phù hợp với các điều ước quốc tế và tập quán thương mại quốc tế trong các văn bản này. Từ đó chúng ta có thể đưa ra những kiến nghị kịp thời để hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật về mua bán hàng hóa quốc tế đặc biệt là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.   

         1. Các khái niệm chung:

Để nghiên cứu và tìm ra những điểm bất cập trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trước hết cần tìm hiểu các khái niệm cơ bản có liên quan đến lĩnh vực này.

1.1. Khái niệm mua bán hàng hóa và Hợp đồng mua bán hàng hóa:

Theo khoản 2 và khoản 8 - điều 3 - Luật thương mại năm 2005 của Việt Nam:

"Hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản kể cả động sản hình thành trong tương lai; những vật gắn liền với đất đai."

"Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận."

Quan hệ mua bán hàng hoá được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lý là hợp đồng mua bán hàng hóa. Trước tiên Hợp đồng mua bán hàng hóa có bản chất chung của một hợp đồng là sự thoả thuận nhằm xác lập thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán hàng hóa(1). Mặc dù Luật Thương mại 2005 không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa nhưng trên cơ sở điều 428 - Bộ luật Dân sự quy định về hợp đồng mua bán tài sản chúng ta có thể vận dụng để rút ra khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa như sau:

Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữa các bên theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng hóa(2) cho bên mua và nhận tiền còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng hóa và trả tiền cho bên bán.

Như vậy hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản. Tuy nhiên hợp đồng mua bán hàng hóa cũng mang những nét đặc thù riêng về chủ thể đối tượng hình thức(3).

  • Về đối tượng: Hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại có đối tượng là hàng hoá. Hàng hóa hiểu theo nghĩa thông thường là sản phẩm lao động của con người được tạo ra nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu của con người nhưng theo quy định của Luật thương mại 2005 thì hàng hóa với tư cách là đối tượng của hợp đồng mua bán trong thương mại chỉ bao gồm hàng hoá hiện đang tồn tại hoặc sẽ có trong tương lai có thể là động sản hoặc bất động sản được phép lưu thông thương mại và phải loại trừ một số hàng hoá đặc biệt chịu sự điều chỉnh riêng như cổ phiếu trái phiếu... Còn đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản rộng hơn là các loại tài sản được quy định tại điều 162 - Bộ luật Dân sự 2005: vật tiền giấy tờ có giá và các quyền tài sản được phép giao dịch.
  • Về chủ thể: chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là thương nhân(4). Thương nhân - chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa có thể là thương nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài. Các tổ chức cá nhân không phải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa. Theo khoản 3 - điều 1 - Luật thương mại 2005 hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân chỉ phải tuân theo Luật Thương maị khi chủ thể này lựa chọn áp dụng Luật Thương mại.
  • Về mục đích: hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại chủ yếu là để kinh doanh thu lợi nhuận cho các thương nhân chỉ phần nào đó phục vụ mục đích tiêu dùng và các mục đích khác cho cả thương nhân và những chủ thể không phải thương nhân tuỳ theo mong muốn và nhu cầu của họ trong từng thời điểm.
  • Về hình thức: Theo điều 401 - Bộ luật Dân sự 2005 và điều 24 - Luật thương mại 2005 thì hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể. Tuy nhiên trong thực tế kinh doanh chúng ta thấy rằng đối tượng là hàng hoá thường mang số lượng nhiều giá trị lớn và để đảm bảo lợi ích tránh xảy ra tranh chấp không đáng có thì hình thức hợp đồng bằng văn bản được ưu tiên sử dụng do những ưu điểm vốn có của nó (minh bạch rõ ràng có thể dễ dàng đưa ra làm bằng chứng khi có tranh chấp).


               1.2. Khái niệm Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế:

  • Theo khoản 1 - điều 1 - Công ước La Haye 1964 về luật thống nhất về mua bán hàng hóa quốc tế (Convention relating to a Uniform Law on the International Sale of Goods) thì hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải thỏa mãn hai điều kiện sau đây:

-           Thứ nhất được ký kết giữa các bên có trụ sở thương mại nằm trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau;

-           Thứ hai phải thỏa mãn ít nhất một trong ba yếu tố sau đây:

  • + Hàng hóa phải được chuyên chở hoặc phải được chuyên chở từ lãnh thổ của quốc gia này đến lãnh thổ của quốc gia khác;
  • + Khi mà những hành vi thể hiện sự chào hàng và chấp nhận chào hàng được thực hiện trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau;
  • +Khi việc giao hàng phải được thực hiện trên lãnh thổ của quốc gia khác không phải là nơi thực hiện những hành vi chào hàng và chấp nhận chào hàng.
  • +Công ước Vienna 1980 về mua bán hàng hoá quốc tế không quy định về khái niệm hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế. Nhưng tại điều 1 của Công ước Vienna 1980 đã gián tiếp xác định phạm vi của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế như sau:

"1.Công ước này áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau.

a. Khi các quốc gia này là các quốc gia thành viên của Công ước hoặc

b. Khi theo các quy tắc tư pháp quốc tế thì luật được áp dụng là luật của nước thành viên Công ước này.

2. Sự kiện các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau không tính đến nếu sự kiện này không xuất phát từ hợp đồng từ các mối quan hệ đã hình thành hoặc vào thời điểm ký hợp đồng giữa các bên hoặc là từ việc trao đổi thông tin giữa các bên.

3. Quốc tịch của các bên quy chế dân sự hoặc thương mại của họ tính chất dân sự hay thương mại của hợp đồng không được xét tới khi xác định phạm vi áp dụng của Công ước này."

Như vậy khác với Công ước La Haye 1964 theo quy định của Công ước Vienna 1980 thì yếu tố quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế được xác định bởi một yếu tố duy nhất là trụ sở thương mại của các bên phải đặt tại các nước khác nhau mà không phụ thuộc vào địa điểm ký kết hợp đồng và cũng không xét đến việc hàng hoá có được dịch chuyển qua biên giới hay không(5).

  • Luật thương mại năm 2005 của Việt Nam không định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế nhưng có định nghĩa về mua bán hàng hoá quốc tế tại điều 27 - Luật Thương mại 2005 như sau:

"1. Mua bán hàng hoá quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu nhập khẩu tạm nhập tái xuất tạm xuất tái nhập và chuyển khẩu.

2. Mua bán hàng hoá quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương."

Từ những quy định pháp luật quốc tế và Việt Nam có thể rút ra những đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế bao gồm:

  • -Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là sự thoả thuận ý chí giữa các thương nhân có trụ sở kinh doanh đặt ở các quốc gia khác nhau theo đó một bên gọi là Bên xuất khẩu có nghĩa vụ giao hàng và chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho một bên khác gọi là Bên nhập khẩu và nhận thanh toán; và Bên nhập khẩu có nghĩa vụ thanh toán cho Bên xuất khẩu nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận.
  • -Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là hợp đồng song vụ: mỗi bên ký kết hợp đồng đều có nghĩa vụ đối với nhau. Bên xuất khẩu có nghĩa vụ giao hàng cho Bên nhập khẩu còn Bên nhập khẩu có nghĩa vụ thanh toán cho Bên xuất khẩu
  • -Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là hợp đồng có đền bù: bên có nghĩa vụ thì cũng có quyền lợi và ngược lại. Bên nhập khẩu được hưởng quyền lợi nhận hàng và đổi lại phải có nghĩa vụ trả tiền cân xứng với giá trị đã được giao. Ngược lại Bên xuất khẩu nhận được tiền phải có nghĩa vụ giao hàng. (6)

2. Những điểm bất cập trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và phương hướng hoàn thiện:

Luật Thương mại được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI kì họp thứ 7 thông qua ngày 14/6/2005. Luật này thay thế Luật Thương mại ngày 10/5/1997 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2006 đã đánh dấu một bước phát triển mới của pháp luật thương mại nói chung và pháp luật về mua bán hàng hoá nói riêng.

2.1. Các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế:

  • -Bộ luật Dân sự 2005 (Mục 1: Hợp đồng mua bán tài sản - Chương XVIII - Phần thứ ba).
  • -Luật thương mại 2005 (Chương II: Mua bán hàng hóa).
  • - Nghị định 12/2006/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý mua bán gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài.
  • -Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003
  • -Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao số 05/2003/NQ-HĐTP ngày 31/07/2003 hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh trọng tài thương mại.
  • -Thông tư 04/2006/TT-BTM của Bộ Thương mại về việc hướng dẫn một số nội dung quy định tại Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua bán gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài.
  • -Thông tư 60/2009/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các đại lý mua bán gia công và quá cảnh hàng hoá với nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp lâm nghiệp và thủy sản
  • -Thông tư 95/2006/TT-BVHTT của Bộ Văn hoá-Thông tin về việc bổ sung Thông tư số 48/2006/TT-BVHTT ngày 05/5/2006 của Bộ Văn hoá-Thông tin hướng dẫn thực hiện Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý mua bán gia công và quá cảnh hàng hoá với nước ngoài
  • - Thông tư 32/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn việc thực hiện Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 của Chính phủ "Quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các đại lý mua bán gia công và quá cảnh hàng hoá với nước ngoài"
  • -Thông tư 48/2006/TT-BVHTT của Bộ Văn hoá-Thông tin về việc hướng dẫn một số nội dung quy định tại nghị định 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý mua bán gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài
  • -Thông tư 02/2006/TT-BBCVT của Bộ Bưu chính Viễn thông về việc hướng dẫn thi hành Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý mua bán gia công và quá cảnh hàng hoá với nước ngoài đối với hàng hoá thuộc quản lý chuyên ngành của Bộ Bưu chính Viễn thong
  • -Thông tư 101/2007/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc sửa đổi bổ sung một số nội dung của Thông tư số 32/2006/TT-BNN ngày 08/5/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn việc thực hiện Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các đại lý mua bán gia công và quá cảnh hàng hoá với nước ngoài.
  • -Thông tư 05/2008/TT-BCT của Bộ Công Thương về việc sửa đổi bổ sung Thông tư số 09/2007/TT-BTM ngày 17/7/2007 của Bộ Thương mại hướng dẫn thi hành Nghị định số 23/2007/NĐ-CP ngày 12/02/2007 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
  • -Thông tư 04/2006/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua bán gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài đối với hàng hóa thuộc diện quản lý chuyên ngành của Ngân hàng Nhà nước.
  • -Thông tư 40/2008/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc sửa đổi bổ sung Thông tư số 101/2007/TT-BNN ngày 10/12/2007 về việc sửa đổi bổ sung một số nội dung của Thông tư số 32/2006/TT-BNN ngày 08/5/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn "hướng dẫn việc thực hiện Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các đại lý mua bán gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài"
  • -Nghị định 23/2007/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
  • -Thông tư 09/2007/TT-BTM của Bộ Thương mại về việc hướng dẫn thi hành Nghị định số 23/2007/NĐ-CP ngày 12/02/2007 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
  • -Nghị định 140/2007/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc.
  • -Nghị định 39/2007/NĐ-CP của Chính phủ về cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh
  • -Nghị định 57/2006/NĐ-CP của Chính phủ về thương mại điện tử.
  • -Nghị định 90/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định về quyền xuất khẩu quyền nhập khẩu của thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam.
  • -Quyết định 01/2008/QĐ-BCT của Bộ Công Thương về việc ban hành Quy chế xuất khẩu xăng dầu và Quy chế kinh doanh tạm nhập tái xuất xăng dầu
  • -Quyết định 05/2006/QĐ-BCN của Bộ Công nghiệp về việc công bố danh mục hóa chất cấm xuất khẩu cấm nhập khẩu theo quy định tại Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/1/2006 của Chính phủ.
  • -Quyết định 06/2006/QĐ-BCN của Bộ Công nghiệp về việc công bố Danh mục hàng cấm nhập khẩu theo quy định tại Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/1/2006
  • -Quyết định 10/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định Giấy chứng nhận lưu hành tự do đối với sản phẩm hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu
  • -Quyết định 11/2007/QĐ-BBCVT của Bộ Bưu chính Viễn thông về việc sửa đổi bổ sung Quyết định số 20/2006/QĐ-BBCVT ngày 30/6/2006 của Bộ trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông ban hành Danh mục sản phẩm công nghệ thông tin đã qua sử dụng cấm nhập khẩu
  • -Quyết định 139/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Quyết định số 254/2006/QĐ-TTg ngày 07/11/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý hoạt động thương mại biên giới với các nước có chung biên giới
  • -Quyết định 254/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý hoạt động thương mại biên giới với các nước có chung biên giới
  • -Thông tư 116/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thủ tục hải quan đối với hàng hoá gia công với thương nhân nước ngoài
  • -Thông tư 116/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thủ tục hải quan đối với hàng hoá gia công với thương nhân nước ngoài
  • -Thông tư 79/2009/TT-BTC của Bộ Tài chính về hướng dẫn về thủ tục hải quan; kiểm tra giám sát hải quan; thuế xuất khẩu thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu nhập khẩu.
  • -Thông tư liên tịch 01/2008/TTLT-BCT-BTC-BGTVT-BNN&PTNT-BYT-NHNN của Bộ Công Thương Bộ Tài chính Bộ Giao thông vận tải Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bộ Y tế và Ngân hàng Nhà nước về việc hướng dẫn thực hiện Quyết định 254/2006/QĐ-TTg ngày 07/11/2006 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý hoạt động thương mại biên giới với các nước có chung biên giới.

2.2. Những bất cập trong các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế:

            2.2.1. Nhìn chung các quy phạm pháp luật Việt Nam hiện hành về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế chưa được pháp điển hóa thành một văn bản cụ thể mà nằm rải rác trong các văn bản pháp luật khác nhau:

  • -Luật thương mại năm 2005 có một chương quy định về mua bán hàng hóa (Chương II) trong đó chỉ có bảy điều luật quy định riêng về mua bán hàng hóa quốc tế và không có điều luật nào trong Luật thương mại năm 2005 quy định cụ thể trực tiếp về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
  • -Nghị định 12/2006/NĐ-CP là nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý mua bán gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài. Trong đó chương II và chương III quy định về các hình thức thể hiện của hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế: xuất khẩu nhập khẩu chuyển khẩu...
  • -Ngoài ra như đã liệt kê ở trên có rất nhiều các văn bản quy phạm pháp luật khác điều chỉnh về mua bán hàng hóa quốc tế nhưng chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào với tư cách là một văn bản dưới luật làm nhiệm vụ tập hợp để đưa ra những quy phạm nguyên tắc chung nhất về mua bán hàng hóa quốc tế cũng như hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.

            2.2.2. Luật Thương mại 2005 chưa có quy định cụ thể về khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế hoặc yếu tố quốc tế nước ngoài của hợp đồng mua bán hàng hóa mà chỉ quy định hợp đồng mua bán hàng hóa phải được "làm thành văn bản" hoặc bằng "hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương". Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là căn cứ quan trọng để xác định những hợp đồng mua bán hàng hóa nào là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và để áp dụng pháp luật điều chỉnh quan hệ pháp luật mua bán hàng hóa quốc tế. Việc chưa có một khái niệm thống nhất về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế sẽ gây ra khó khăn và những cách hiểu khác nhau trong quá trình áp dụng các quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề mua bán hàng hóa quốc tế có thương nhân Việt Nam tham gia.

            Trước đây trong Luật Thương mại 1997 (đã hết hiệu lực) đã có định nghĩa về "hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài". Thuật ngữ "hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài" không phù hợp với Công ước Vienna 1980. Lẽ ra khi ban hành Luật thương mại 2005 thay thế Luật thương mại 1997 thì định nghĩa hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài phải được thay thế bằng định nghĩa hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Nhưng rất tiếc trong Luật thương mại 2005 lại không có định nghĩa này. Khoản 1 - điều 27 - Luật Thương mại 2005 chỉ nêu ra các hình thức mua bán hàng hóa quốc tế và khoản 2 - điều 27 quy định "mua bán hàng hóa quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương" mà không đề cập đến hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Từ đó buộc phải hiểu một cách "suy diễn" rằng hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là văn bản hoặc một hình thức tương đương văn bản ghi nhận nội dung thỏa thuận giữa các bên về việc mua bán hàng hóa có yếu tố quốc tế. Nhưng yếu tố quốc tế  đó cũng không được chỉ ra một cách rõ ràng trong khoản 1 - điều 27 - Luật Thương mại 2005. Trong đó cũng không có những quy định cụ thể về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế như: khái niệm phân loại nội dung cơ bản thủ tục giao kết điều kiện có hiệu lực... Đặc biệt Nghị định 12/2006/NĐ-CP với tư cách là một văn bản hướng dẫn dưới luật vẫn chưa giải thích được cụm từ "hình thức khác theo quy định của pháp luật" tương đương văn bản trong khoản 2 - điều 27 và khoản 15 - điều 3  - Luật Thương mại 2005 là những hình thức nào? Tương tự Nghị định 23/2007/NĐ-CP cũng không có quy định nào cụ thể về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế chưa được điều chỉnh như một chế định độc lập và một vấn đề riêng biệt. Trong khi tầm quan trọng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trong hoạt động thương mại là rất lớn.

            2.2.3. Việc xác định phạm vi của hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế bằng cách liệt kê ra các hình thức của mua bán hàng hóa quốc tế tại khoản 1 - điều 27 - Luật Thương mại 2005 khiến cho khái niệm mua bán hàng hóa quốc tế trở nên bị hạn chế hẹp lại và không rõ ràng.

  • -Hẹp thể hiện ở chỗ: Nếu căn cứ theo khoản 1 - điều 27 - Luật Thương mại thì mua bán hàng hóa quốc tế bao gồm 5 hình thức: xuất khẩu nhập khẩu tạm nhập - tái xuất tạm xuất - tái nhập và chuyển khẩu. Nghĩa là theo Luật thương mại Việt Nam thì yếu tố quốc tế của mua bán hàng hóa quốc tế chỉ có yếu tố vận chuyển hàng hóa qua biên giới mà không xem xét đến trụ sở thương mại của các chủ thể tham gia quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế. Điều này chưa phù hợp với quy định của Công ước Vienna 1980 quy định chỉ gồm một yếu tố duy nhất là các bên có trụ sở thương mại ở các quốc gia khác nhau và Công ước La Haye 1964 gồm ba yếu tố như đã phân tích ở trên. Ví dụ: Thương nhân A có nơi cư trú và hoạt động kinh doanh ở Việt Nam ký hợp đồng mua bán phụ liệu may mặc với Công ty X là Công ty Trung Quốc có Chi nhánh hoạt động sản xuất mặt hàng này tại Việt Nam nhưng trụ sở chính ở Trung Quốc. Hàng hóa không được vận chuyển qua biên giới và hoàn toàn sản xuất và mua bán tại Việt Nam. Theo Công ước Vienna 1980 thì đây là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế vì trụ sở thương mại của hai bên ở hai quốc gia khác nhau còn theo quy định tại điều 27 - Luật thương mại thì đây không phải là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế vì không có yếu tố xuất khẩu nhập khẩu..."
  • -Không rõ ràng về mặt ngôn từ thể hiện ở chỗ:

            Trong các hình thức mua bán hàng hóa quốc tế mà điều 27 - Luật Thương mại 2005 nêu ra có tạm nhập tái xuất và tạm xuất tái nhập. Như vậy căn cứ tổng cộng có tổng cộng 7 hình thức mua bán hàng hóa quốc tế. Tuy nhiên theo các điều khoản giải thích cụ thể: điều 28 29 và 30 - Luật Thương mại 2005 thì thực chất "tạm nhập tái xuất" là "tạm nhập" đi kèm với "tái xuất" và "tạm xuất" đi kèm với "tái nhập". Kết quả là chỉ có 5 hình thức mua bán hàng hóa quốc tế: xuất khẩu nhập khẩu tạm nhập - tái xuất tạm xuất - tái nhập và chuyển khẩu. Cần thay hai dấu " " trong khoản 1 - điều 27 bằng dấu "-" thì mới đảm bảo diễn đạt chính xác về các hình thức của mua bán hàng hoá quốc tế. Trong khi còn nhiều hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa mà không cần có yếu tố xuất khẩu nhập khẩu như điều 27 - Luật thương mại 2005 quy định.

            2.2.4. Về định nghĩa chuyển khẩu tại điều 30 - Luật Thương mại 2005:

            Điều 30 - Luật Thương mại 2005 quy định: "Chuyển khẩu hàng hóa là việc mua hàng từ một nước vùng lãnh thổ để bán sang một nước vùng lãnh thổ ngoài lãnh thổ Việt Nam mà không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam". Ở đây chúng ta hình dung có sự tham gia của ba bên thương nhân trong đó có một thương nhân có trụ sở thương mại/nơi cư trú ở Việt Nam đứng ra mua hàng hóa của thương nhân ở nước xuất khẩu bán cho thương nhân ở nước nhập khẩu. Nhưng điều 30 - Luật Thương mại lại không xác định rõ ai là người thực hiện việc mua hàng từ một nước/vùng lãnh thổ để bán sang nước khác/vùng lãnh thổ khác ngoài Việt Nam? Nếu một thương nhân có trụ sở/ nơi cư trú ở chính nước xuất khẩu đứng ra mua hàng của thương nhân khác cũng ở nước xuất khẩu và bán hàng hóa sang nước nhập khẩu thì không được coi là "chuyển khẩu" được và không hề có liên quan đến quốc gia thứ ba là Việt Nam. Vấn đề chuyển khẩu chỉ nên đặt ra khi thương nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài có hiện diện thương mại tại Việt Nam đứng ra mua hàng hoá từ nước xuất khẩu để bán cho nước nhập khẩu ngoài Việt Nam. Nhưng quy định tại Luật Thương mại lại không diễn đạt rõ điều này dẫn đến cách hiểu là bất kỳ thương nhân nào thực hiện việc mua hàng hóa ngoài lãnh thổ Việt Nam mà không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam thì đều được coi là chuyển khẩu.       

            2.2.5. Luật Thương mại và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa cụ thể hóa các quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam 2005 và Công ước Vienna 1980 liên quan đến vấn đề "chào hàng" "đặt hàng" trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thủ tục giao kết hợp đồng mua bán quốc tế. Như đã phân tích ở trên mua bán hàng hoá quốc tế có những điểm đặc thù riêng khác với quan hệ mua bán tài sản đã được quy định trong Bộ luật dân sự. Do đó mua bán hàng hoá quốc tế cần trở thành một chế định quan trọng và cần được điều chỉnh trong các văn bản pháp luật chuyên ngành bên cạnh đạo luật gốc là Bộ luật dân sự 2005.